DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON
Ngày đăng: 09/10/2021

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

 

STT

TÊN BẢN ÁN

SỐ TRANG

  1.  

Quyết định giám đốc thẩm 57A/2014/DS-GĐT ngày 24/02/2014 về vụ án “Truy nhận cha cho con” của Tòa Dân sự - Tòa án Nhân dân Tối cao

Nội dung: Ông Tiến là con của ông Đinh Phục Ba và bà Lê Thị Thuyền, vì chiến tranh nên khai sinh gốc không còn, theo Nghị định 83 ông đã khai sinh lại. Năm 2010, phát sinh tranh chấp giữa ông và các cô nên Sở tư pháp có công văn 541 hướng dẫn truy nhận cha cho con tại Tòa.

Các cô của ông không gồm: bà Sương, bà Năm, bà Đào và bà Lựu không thừa nhận ông là con của ông Ba và bà Thuyền.

Do vậy, ông Tiến đề nghị Tòa án giải quyết, truy nhận ông Ba và bà Thuyền là cha mẹ của ông.

Ông Tiến cung cấp giấy xác nhận của một số người làm chứng như ông Đỗ Văn Tép, ông Trần Văn Ngọc, ông Đinh Hữu Út và bà Phan Thị Trinh,...không yêu cầu giám định gen.

Bản án sơ thẩm: Bác yêu cầu của ông Tiến về việc yêu cầu truy nhận ông Ba là cha.

Bản án phúc thẩm: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đinh Thành Tiến. Xác định ông Tiến là con của ông Ba và bà Thuyền.

Tòa án tối cao nhận định: Ông Tiến sinh ra trong thời kỳ chiến tranh ở trong vùng địch tạm chiếm mà ông Ba và bà Thuyền đều là cán bộ kháng chiến, các nhân chứng là những cán bộ kháng chiến cùng hoạt động với bà Thuyền và ông Ba đều xác định giữa ông Ba với bà Thuyền có làm lễ công nhận là vợ chồng, ông Tiến được sinh ra trong thời kỳ này.

Toà cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Công văn số 1284/CSQGLA/KT/KS/K ngày 8/3/1973 của chế độ cũ được nêu trong Công văn số 870CV/BTCTƯ, cũng như việc ông Tiến không yêu cầu giám định gien để bác yêu cầu của ông Tiến. Toà cấp phúc thẩm không giám định gien với lý do bị đơn không cho giám định, mà chỉ căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án để chấp nhận yêu cầu của ông Tiến đều chưa đủ căn cứ vững chắc.

Việc xác định ông Tiến có phải con ông Ba hay không phải dựa vào giám định gien (AND), nay các bị đơn đồng ý khai quật mồ ông Ba lấy mẫu giám định AND để xác định ông Tiến có phải là con ông Ba hay không thì mới đảm bảo căn cứ.

Tòa án tối cao quyết định: Hủy bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 12/2013/HNGĐ-PT ngày 04/04/2013 của TAND tỉnh Long An và Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2012/HNGĐ-ST ngày 07/08/2012 của TAND thành phố Tân An, tỉnh Long An.

1-4

  1.  

Quyết định số 973/2017/QĐDS-ST ngày 26/7/2017 về “Xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp – Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung: Cha đẻ của bà N là ông Từ C, chết ngày 26/3/1965 và mẹ đẻ của bà N là bà Huỳnh A, sinh năm 1924, hiện còn sống. Bà A và ông C có 04 người con chung: Từ K, Huỳnh M, Xây N, Mỹ H. Do chiến tranh và để trốn địch nên ông C và bà A sinh ra bà N có khai sinh cho bà nhưng không khai tên cha, phải lấy họ mẹ. Không có tên cha trong giấy khai sinh làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà trong việc khai nhận di sản thừa kế. Nay bà N yêu cầu xác định ông Từ C là cha.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Xét đơn của bà N yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Từ C là cha, Tòa án đã thu thập chứng cứ là các bản tự khai của bà Huỳnh A, bà Từ Mỹ H đều thể hiện ông C, bà A là vợ chồng. Do chiến tranh và để trốn quân dịch nên khi ông C, bà A sinh ra bà M, bà N có khai sinh nhưng không khai tên cha và mà phải lấy họ của mẹ. Bà A, bà H xác nhận ông C là cha của bà N.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của đương sự: Xác định ông từ C, sinh năm 1921 chết ngày 26/3/1965 là cha của bà Huỳnh Xây N. Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà Huỳnh Xây N với ông Từ C được giải quyết theo quy định của pháp luật.

4-7

  1.  

Bản án số: 26/2017/HNGĐ-ST ngày 02/08/2017 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” - Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

Nội dung: Anh P và chị H có đăng ký kết hôn năm 2016, trước khi kết hôn, chị H có chồng là anh C. Trong thời gian anh C đang chấp hành án, năm 2012 anh P và chị H có quan hệ tình cảm và chung sống với nhau như vợ chồng. Năm 2013, chị H sinh cháu K, do chị H và anh C chưa ly hôn nên anh không làm giấy khai sinh cho cháu K được. Do vậy, anh P khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định anh P là cha đẻ của cháu K.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Tại phiếu kết quả phân tích AND số KQ 178790 ngày 09/03/2017 kết luận: Anh P và cháu K có quan hệ huyết thống Cha – con. Anh P đề nghị Tòa án nhân dân quận Kiến An xác định anh P là cha đẻ của cháu K là phù hợp với lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở chấp nhận anh P và chị H là cha, mẹ đẻ của cháu K.

Tòa án sơ thẩm tuyên: Anh Trần Văn P là cha đẻ của cháu Trần Phúc K sinh năm 2013, Anh P không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

8-12

  1.  

Bản án số: 65/2017/HNGĐ-ST ngày 9/8/2017 về việc “Xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức – Tỉnh Long An.

Nội dung: Chị A, anh B quen biết nhau thông qua một người bạn. Chị A và ông B quan hệ với nhau từ giữa tháng 8/2012. Chị A phát hiện mang thai với ông B, khi thai được 4 tuần chị A có báo với ông B, ông B chấp nhận và hứa hẹn sẽ nuôi con chị sau sinh.

Đến ngày 21/4/2013 chị A sinh được một bé trai, khi làm giấy khai sinh cho con, chị A đề nghị ông B đứng tên cha nhưng ông B nói còn vướng bận pháp lý với vợ nên không thể đứng khai sinh cho con.

Vì lý do gia phong lễ giáo, danh dự gia đình nên chị A nhờ người bạn là ông D đứng tên trên giấy khai sinh cho con chị A. Từ tháng 8/2012 khi cháu Y được 2 tháng thì ông B cấp dưỡng, sau thì ông B không cấp dưỡng và cũng không đến thăm.

Ngày 14/11/2016, chị A giám định ADN và có kết luận ông B là cha ruột của cháu Y. Nay chị yêu cầu Tòa xác định ông B là cha ruột cháu Y. Yêu cầu cấp dưỡng 3.000.000/tháng đến khi cháu 18 tuổi.

Ông B cho rằng chị A sống với người đàn ông khác là anh D và họ tên người cha là D nên ông B ngưng cấp dưỡng, nếu chị A không có khả năng nuôi con thì ông B yêu cầu được nuôi con.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Chị A và ông B thống nhất quan hệ tình cảm và tại kết luận giám định ông B là cha ruột của Y. Chị A nuôi cháu Y, cháu Y phát triển bình thường và tại bản tường trình ngày 26/7/2017 ông B đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Do đó, yêu cầu của chị A là có căn cứ chấp nhận. Chi phí giám định ADN ông B phải chịu toàn bộ

Tòa án sơ thẩm tuyên: Xác định ông B sinh năm 198 là cha ruột của cháu Y sinh ngày 12/4/2013. Giao con chung Y cho chị A được nuôi dưỡng. Ông B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con, mỗi tháng 3.000.000 đồng tính từ tháng 8/2017 đến khi cháu tròn 18 tuổi.

13-17

  1.  

Bản án số: 193/2017/HNGĐ-ST ngày 13/9/2017 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

Nội dung: Chị T và anh H quen biết nhau từ ngày 25/09/2014, đến đầu năm 2016 hai người nảy sinh tình cảm và có quan hệ với nhau nhiều lần dẫn đến có thai.

Đến ngày 19/04/2017, chị T sinh được một cháu gái. Đến UBND thị trấn Nông Trường Mộc Châu khai sinh cho cháu và đặt tên cháu là A, họ tên cha là C. Vì trước đó chị T và anh C là vợ chồng và đã được Tòa án huyện Phù Cừ, Hưng Yên giải quyết công nhận thuận tình ly hôn ngày 30/06/2016 nên khi đi sinh sinh cho cháu A vẫn phải kê khai người cha là anh C.

Anh H không quan tâm đến hai mẹ con và cũng không nhận cháu A là con chung. Nay chị T yêu cầu Tòa án xác định anh H là cha đẻ của cháu A và cải chính giấy khai sinh cho cháu A và không yêu cầu cấp dưỡng.

Tòa án sơ thẩm nhận định: Quá trình hòa giải và tại phiên tòa chị T và anh H thừa nhận và xác định cháu A do chị T sinh ra vào ngày 19/4/2017 là con đẻ của chị T và anh H việc thừa nhận trên là hoàn toàn phù hợp với lời khai của nguyên đơn, bị đơn và quy định tại Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Về việc xác định cháu A không phải con đẻ anh C: Anh C và chị T đã được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn vào ngày 30/06/2016, sau đó không có quan hệ tình cảm cũng như quan hệ sinh lý. Chị T tự ý ghi tên cha là anh C. Do đó xác định anh C không phải cha đẻ của cháu A phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Tòa sơ thẩm tuyên: Xử công nhận sự thỏa thuận giữa Chị T và anh H về việc xác định anh H là cha đẻ của cháu A do chị T sinh ra ngày 19/4/2017. Anh H có trách nhiệm làm thủ tục cải chính lại tên người cha trong giấy khai sinh cho cháu A.

18-23

  1.  

Quyết định số 03/2017/QĐDS-ST ngày 28-9-2017 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

Nội dung: Năm 1968 ông Nguyễn Văn Kh cưới bà L; sau khi cưới bà L được vài tháng thì hy sinh, lúc này bà L đang mang thai với ông Kh. Sau đó bà đặt tên con là Nguyễn Thành K.

Anh K được 04 tuổi thì bà tái giá với ông Đ, khi về sống chung thì bà L lấy họ ‘Ngô” của ông Đ đặt lại tên cho anh K. Hiện nay anh K cần làm các thủ tục để được công nhận là con của liệt sỹ Nguyễn Văn Kh nhưng không làm được vì ông Kh họ “Nguyễn” còn anh K họ “Ngô”. Do đó anh K yêu cầu Tòa án xác định ông Kh là cha ruột mình.

Tòa sơ thẩm nhận định: Qua xác minh bà L và chồng sau là ông Đ đều thừa nhận là anh K là con ruột của ông Kh. Các em của ông Kh là bà T, ông T1, ông N và chính quyền địa phương nguyên quán của ông Kh đều xác định anh K là con ruột của ông Kh và bà L. Cha mẹ ông Kh đã chết, ông Kh chỉ có vợ là bà L và 01 con là anh K.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu xác định cha con của anh K, xác định ông Kh là cha ruột của anh Ngô Văn K.

24-26

  1.  

Bản án số: 70/2017/HNST ngày 19/10/2017 về việc “Xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.

 

Nội dung: Vào tháng 02/2016, chị H có đi cạo mủ cao su thuê cho anh Đ. Đêm ngày 10/02/2016 chị H đi cạo mủ thì gặp anh Đ, khi đó anh Đ đang trong trạng thái say xỉn và có hành vi giao cấu với chị H, sau đó chị H có thai.

Đến ngày 22/10/2016 chị H sinh 01 người con trai, chị H đặt tên con là Nguyễn T. Trong quá trình mang thai và sau khi sinh con anh Đ và gia đình anh Đ không hỏi thăm và cấp dưỡng.

Nay chị H đề nghị Tòa án xác định anh Đ là cha ruột của cháu Nguyễn T và anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cháu T.

Tòa sơ thẩm nhận định: Anh Đ thừa nhận vào ngày 10/02/2016 đã có quan hệ tình dục với chị H nhưng không công nhận cháu Nguyễn T là con của anh Đ. Anh Đ yêu cầu tòa án trưng cầu giám định, nếu kết quả cháu T là con của anh Đ thì anh chấp nhận đứng tên cha và có nghĩa vụ với cháu T.

Kết luận giám định kết luận: “Nguyễn T không phải là con ruột của ông Trần Đ”. Đây là chứng cứ quan trọng, tuy kỹ thuật cũng có thể sai sót nên không phải kết quả cuối cùng và là bằng chứng duy nhất để kết luận quan hệ huyết thống.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trình tự, thủ tục lấy mẫu giám định và quá trình giám định ADN đều tuân thủ theo quy định của pháp luật, theo kết luận thì cháu T không phải là con anh Đ. Nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là đúng nên ý kiến của chị A là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Tòa sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn H về việc yêu cầu công nhận anh Đ là cha ruột cháu Nguyễn T

27-32

  1.  

Quyết định số: 152/2017/QDDS-ST ngày 06/12/2017 về việc “Xác nhận cha cho con chưa thành niên” của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Nội dung: Chị V và anh L kết hôn vào ngày 02/3/2009, do trong quá trình chung sống vợ chồng mãi không sinh con nên vợ chồng đi chữa trị nhiều nơi nhưng không có kết quả. Vậy nên, khi chị V mang thai và sinh con tháng 10/2015 thì anh L nghi ngờ không phải con của anh L.

Từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm. Chị V bỏ về nhà bố mẹ từ tháng 3/2017, vợ chồng ly thân. Sau đó, các bên đã được Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, giao con cho chị V nuôi.

Thực tế trong quá trình chung sống với anh L, bản thân chị V có quan hệ sinh lý với anh T và sinh cháu A. Tuy nhiên do khi sinh cháu A vẫn trong thời kỳ hôn nhân với anh L nên cháu mang họ anh L. Nay sau khi ly hôn chị và anh T đã đi giám định AND nên đã xác định cháu A là con đẻ của chị và anh T. Do vậy chị V đề nghị Tòa án xác nhận anh T là cha đẻ của cháu A.

Tòa sơ thẩm nhận định: Sau khi ly hôn chị V và anh T đã đi giám định ADN xác định huyết thống giữa anh T và cháu A. Kết luận là quan hệ cha con. Tại phiên họp chị V và anh T đều xác định cháu A là con chung của anh chị. Do đó, yêu cầu xác nhận cha con của chị V và anh T là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị V và anh T. Xác nhận anh T là cha đẻ của cháu A.

33-37

  1.  

Quyết định số: 02/2017/QĐVDS-ST ngày 11/12/2017 về việc “Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con” của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Nội dung: Trong thời kỳ chiến tranh, cha mẹ bà T là ông H và bà Th1 sinh được ông Tu, ông Th, bà K, bà B và bà T. Vào năm 1968, ông H hy sinh. Năm 1969 do hoàn cảnh gia đình khó khăn, khi ông Q và bà Nh xin bà T về nuôi thì mẹ Th1 đồng ý. Ông Q đặt tên cho bà là Trương Thị Ngọc T. Năm 1973 bà Th1 chết. Nay bà T có nguyện vọng xác định cha, mẹ ruột của mình và cải sửa lại họ tên mình. Yêu cầu tòa xác định ông H (đã chết), bà Th1 (đã chết) là cha mẹ ruột của bà T.

Tòa sơ thẩm nhận định: Lời trình bày của bà T phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ như: Các văn bản tự khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như ông Tu, ông Th, bà K, bà B là anh chị em ruột của bà T. Và lời trình bày của mẹ nuôi là bà Nh.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Trương Thị Ngọc T. Công nhận ông H (đã chết) bà Th1 (đã chết) là cha, mẹ ruột của bà Trương Thị Ngọc T.

38-40

  1.  

Quyết định số: 72/2018/QĐDS-ST ngày 07-03-2018 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Nội dung: Vào năm 1960 bà T là mẹ ruột của bà L có tổ chức lễ cưới với ông N (đã hy sinh năm 1964) nhưng không đăng ký kết hôn, trong quá trình chung sống ông N và bà T sinh được 01 người con chung là bà L.

Sau khi ông N hy sinh thì bà T tái giá với ông K. Bà L cùng bà T về sống chung với cha kế. Bà L được ông K nuôi dưỡng như con ruột và kê khai đăng ký lại họ tên Lê Thị L thành Lâm Thị L và sử dụng tên này cho đến nay. Nay bà L yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Văn N là cha ruột của bà.

Tòa sơ thẩm nhận định: Căn cứ hồ sơ liệt sĩ của ông Lê Văn N do Sở thương binh và xã hội tỉnh Hậu Giang cung cấp, thể hiện: Tại Giấy chứng nhận tình hình thân nhân trong gia đình liệt sĩ ngày 16/7/1989, thể hiện ông N và bà T có 01 người con chung là bà Lê Thị L.

Tại biên bản xác minh của UBND ấp LB1 ngày 07/06/2016 thì ông Đ, Lâm Thị P và Phạm Thị L là con ruột của ông Lê Văn N.

Tại biên bản xác minh của Tòa án tại địa phương thì bà Nguyễn Thị N và ông Lê Văn Ha là hàng xóm để xác nhận bà L là người trực tiếp thờ cúng ông Lê Văn N hơn 30 năm nay và hàng năm bà L có tổ chức làm đám giỗ cho ông N.

Theo biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn S (cậu ruột của bà L) và bà Nguyễn Thị T (mẹ ruột của bà L) đều xác định và thừa nhận bà Lê Thị L và Lâm Thị L là một, con ruột của ông Lê Văn N.

Từ những chứng cứ trên xét thấy yêu cầu của bà L là có cơ sở chấp nhận.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị L về việc yêu cầu xác định ông Lê Văn N là cha ruột. Công nhận ông Lê Văn N sinh năm 1938 là cha ruột của Lâm Thị L. Bà L có quyền yêu cầu thay đổi cải chính hộ tịch theo họ của ông Lê Văn N.

41-44

  1.  

Quyết định số: 15/2018/QĐHNGĐ-ST ngày 08/03/2018 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

Nội dung: Cha của bà Lê Thị T là ông Lê Văn T (đã hy sinh năm 1971) và mẹ là bà Đoàn Thị C (đã mất năm 1997). Ông T và bà C kết hôn vào năm 1954 tại xã B huyện T (nay huyện H), tỉnh Q.

Trong quá trình chung sống ông T và bà C sinh được 07 người con nhưng 04 người con đã mất khi còn nhỏ, hiện nay chỉ còn 03 người con gồm: bà Lê Thị T, ông Lê Văn B và bà Lê Thị L. Nguyên gốc gia tộc của cha bà T là tộc Lê Văn. Tuy nhiên, trong thời gian hoạt động cách mạng để bảo đảm bí mật cha bà T đã đổi tên thành Lê Tấn T nhưng gia đình không được biết.

Bà C làm giấy khai sinh cho bà T nhưng không nhớ rõ năm sinh và đã khai tên cha là Lê Văn T sinh năm 1927.

Khi khai hồ sơ thân nhân liệt sỹ, do bà T đã có gia đình nên mẹ bà không kê khai tên bà vào danh sách. Bà Lê Thị T không được hưởng chế độ do không có giấy tờ chứng minh là con ông Lê Tấn T. Nay bà T yêu cầu xác định bà là con ruột của ông Lê Tấn T.

Tòa sơ thẩm nhận định: ông Lê Tấn T và bà Đoàn Thị C kết hôn với nhau năm 1954, có 07 người con chung nhưng đã mất 04 người, còn 03 người trong đó có bà T. Trong giấy khai sinh của bà T thể hiện họ tên cha là Lê Văn T; sinh năm 1927 và trong hồ sơ thân nhân liệt sỹ không có tên của bà Lê Thị T. Mặc dù, giấy khai sinh của bà T ghi tên cha là Lê Văn T nhưng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác định ông Lê Văn T (sinh năm 1927) và ông Lê Tấn T (sinh năm 1928) là cùng một người. Do đó, yêu cầu của bà T là có căn cứ.

Tòa sơ thẩm tuyên: Căn cứ Điều 88, 90 Luật hôn nhân và gia đình Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Thị T về việc xác định cha cho con. Xác định ông Lê Tấn T sinh năm 1928 là cha ruột của bà Lê Thị T.

45-49

  1.  

Quyết định số 01/2018/QĐDS-ST ngày 14/05/2018 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

Nội dung: Trước năm 1968 ông H có vợ là bà T và có 01 người con là bà P. Năm 1968, ông H hy sinh nên bà T có chồng sau là ông A.

Bà P được ông A nuôi dưỡng và lấy họ của ông A để đặt tên cho bà P. Hiện nay bà T và ông A đều đã chết, bà P cần làm các thủ tuc để được công nhận là con của liệt sĩ H nhưng vì mang họ “Phan” không trùng họ với ông H nên không làm thủ tục được. Do đó, bà P yêu cầu Tòa án xác định ông Lâm Văn H là cha ruột của bà P.

Tòa sơ thẩm nhận định: Qua xác minh thì chính quyền địa phương cũng xác định bà P là con của Liệt sĩ H. Ngoài bà P thì ông H không có người con nào khác. Cha mẹ ông H đều đã chết, ông H còn hai người em là bà L và C, nhưng ông C đã bỏ địa phương đi nơi khác sinh sống, bà L không biết hiện nay ông C làm gì, ở đâu. Bà L cũng xác định bà P là con ruột của ông H. Bà P xin xác nhận ông H là cha ruột được mọi người thống nhất và không có ý kiến nào phản đối.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu về việc xác định cha cho con của bà Phan Thị P. Xác định ông Lâm Văn H là cha ruột của bà Phan Thị P.

50-52

  1.  

Quyết định số: 106/2018/QĐDS-ST ngày 13/06/2018 về việc “Xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, Quảng Nam

Nội dung: Bà Phạm Thị M là mẹ anh Nguyễn Văn B. Ngày 18/01/1992, sau khi sinh anh B, vì một số lý do cá nhân mà bà M đi làm giấy khai sinh cho anh B không khai tên thật cha của anh B mà khai là ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1950 – là cha của Nguyễn Văn B. Nay để thuận tiện trong cuộc sống sau này và để khai đúng tên người cha, anh B yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Khương Minh C, sinh năm 1925 (đã chết) là cha của anh Nguyễn Văn B.

Tòa sơ thẩm nhận định: Anh B cung cấp chứng cứ là Giấy chứng tử của ông Khương Minh C, sinh ngày 01/01/1925 (đã chết), Biên bản họp gia đình về việc thống nhất công nhận mối quan hệ huyết thống có xác nhận của Ủy ban nhân dân, Giấy khai sinh anh Khương Minh P là con ông Khương Minh C.

Theo đó ông Khương Minh C và bà Nguyễn Thị H có với nhau 09 người con trong đó có anh Khương Minh P (sinh năm 1957). Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về ADN số 4.002-2018/ADN “Khương Minh P có quan hệ huyết thống theo dòng cha với Nguyễn Văn B”.

Tòa sơ thẩm tuyên: Căn cứ Điều 88, 90 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự; khoản 10 Điều 29; Điều 361 và Điều 370 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn B.

Ông Khương Minh C, sinh năm 1925 (đã chết) là cha của Nguyễn Văn B sinh ngày 18/01/1992.

53-55

  1.  

Bản án số: 556/2018/HNGĐ-ST ngày 18/06/2018 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung: Bà C và ông H chung sống như vợ chồng từ năm 2011 đến năm 2013 thì đăng ký kết hôn. Theo giấy khai sinh bé G thì có mẹ là C và cha là H nhưng thực tế thì ông H không phải là cha đẻ của G.

Trong quá trình bảo lãnh cho trẻ G đi học ở Đài Loan cơ quan xét duyệt hồ sơ yêu cầu phải giám định ADN đối với cha và mẹ trẻ G. Bà C lo rằng khi ra kết quả giám định sẽ bị từ chối nên đã yêu cầu ông H đi làm thủ tục cải chính.

Ông H không đồng ý và luôn khẳng định trẻ G là con đẻ của mình. Ngày 07/05/2018, bà C cũng ông H đã thực hiện giám định và có kết luận là ông H không phải là cha đẻ của G. Tuy nhiên, ông H vẫn một mực khẳng định G là con gái của mình.

Tòa sơ thẩm nhận định: Căn cứ Giấy khai sinh, căn cứ kết quả xét nghiệm ADN huyết thống với xác suất liên hệ cha con là 0%. Ông H thừa nhận và không có ý kiến tranh chấp với kết quả giám định. Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Xác định ông H không phải là cha đẻ của trẻ G.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bà C: xác định ông H không phải là cha đẻ của trẻ G. Bà C có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để thực hiện cải chính hộ tịch cho trẻ G.

56-60

  1.  

Quyết định số: 01/2018/QĐDS- ST ngày 14/09/2018 của Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang.

Nội dung: Tháng 11/2016, ông Vừ Đức T, sinh năm 1998 tự nguyện tìm hiểu và lấy chị Sùng Thị H, sinh năm 1999. Đến ngày 02/02/2017 anh T, chị H chung sống với nhau như vợ chồng ở tại nhà ông V.

Do chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên anh T và chị H không có đăng ký kết hôn chỉ được hai bên gia đình tổ chức ăn hỏi, cưới xin theo phong tục. Tháng 6/2017, anh T bị tai nạn chết, khi anh T chết chị H đã mang thai được 02 tháng.

Ngày 20/2/2018, chị H sinh con trai và khai sinh cho con là Sùng Xuân B. Cháu B khai sinh theo họ mẹ còn phần cha trong giấy khai sinh để trống chưa được cơ quan đăng ký hộ tịch công nhận.

Ông V (bố đẻ của anh Vừ Đức T) yêu cầu Tòa án xác định anh Vừ Đức T (đã chết) là cha đẻ của cháu sùng Xuân B để làm lại giấy khai sinh cho cháu B theo họ cha và có đầy đủ tên cha mẹ.

Tòa sơ thẩm nhận định: Từ khi chung sống với anh T đến khi chị H sinh con chị H vẫn ở cùng gia đình ông V, đến nay do anh T đã chết nên chị H không muốn tiếp tục ở lại gia đình ông nên đã để lại cháu Sùng Xuân B cho gia đình ông V nuôi dưỡng để sau này phụng dưỡng ông bà. Hiện nay chị H đã về nhà bố mẹ đẻ, còn cháu Sùng Xuân B đang được gia đình ông V nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của ông Vừ Thìn V là có có cơ sở phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Căn cứ vào Điều 92, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của ông Vừ Thìn V xác định anh Vừ Đức T, sinh ngày 28/02/1998, đã chết ngày 29/06/2017 là cha ruột của cháu Sừng Xuân B, sinh ngày 20/02/2018.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Vừ Thìn V.

Xác định anh Vừ Đức T, sinh ngày 28/02/1998, đã chết ngày 29/6/2017 là cha ruột của cháu Sùng Xuấn B, sinh ngày 20/02/2018. Sau khi Quyết định này có hiệu lực pháp luật các đương sự có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện cải chính hộ tịch cho cháu sùng Xuân B theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

61-66

  1.  

Bản án số: 36/2018/HNGĐ-PT ngày 08/11/2018 về việc “Tranh chấp xác định con cho mẹ” của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

 

Nội dung: Vào ngày 15/06/2013, chị T sinh cháu Phạm Trần Minh A tại nhà của bà Nguyễn Thị N2 (mụ vườn). Sau khi sinh được 02 ngày thì chị giao cháu Minh A cho bà Trần Thị V nuôi dưỡng.

Chị T không có giấy chứng sinh và chị cũng không làm giấy khai sinh cho cháu Minh A. Sau khi nhận nuôi cháu Minh A, bà V đưa cháu Minh A lên nhà của chị Phạm Thị N3 để làm giúp việc cho chị N3 và chăm sóc cháu Minh A.

Ngày 16/12/2016, chị N3 chết, hiện nay cháu Minh A do chị Trần Thị N và anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng.

Nay chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu Phạm Trần Minh A, sinh 15/06/2013 là con đẻ của chị T và yêu cầu chị N, anh Q giao cháu Minh A cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.

Tòa sơ thẩm tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T về việc yêu cầu tòa án xác định cháu Phạm Trần Minh A, sinh ngày 15/06/2013 là con đẻ của chị T và yêu cầu chị Trần Thị N, anh Trần Văn Q giao cháu Minh A cho chị Võ Thị Mông T nuôi dưỡng.

Tòa phúc thẩm nhận định: Cháu Phạm Trần Minh A đang sinh sống cùng chị Trần Thị N và anh Trần Văn Q. Cháu A là con ruột của chị T, chị T sinh cháu ngày 15/06/2013 tại nhà bà Nguyễn Thị N2. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, chị T đều có yêu cầu giám định ADN đối với cháu Minh A. Tòa án đã yêu cầu chị N đưa cháu Minh A đến Tòa án để lấy mẫu xét nghiệm ADN theo yêu cầu của chị T.

Tuy nhiên chị N từ chối, cho rằng việc xét nghiệm ADN ảnh hưởng đến việc phát triển tâm sinh lý của cháu Minh A. Do đó, Tòa án không thể tiến hành các thủ tục để giám định ADN.

Tại kết quả giám định ADN kết luận “ Bằng kết luận ADN chứng minh ADN từ mẫu Võ Thị Mộng T và ADN từ mẫu Phạm Trần Minh A có cùng huyết thống “mẹ-con”.

Mặc dù việc giám định ADN chưa được thực hiện theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật (do xét nghiệm theo yêu cầu cá nhân, tự thu thập mẫu) nhưng đây là một trong những tài liệu cần tham khảo.

Vì nó phù hợp với những lời khai của những người làm chứng như bà V, bà N2 và những người dân xung quanh nhà chị N3. Chị N cho rằng cháu A là con ruột nhưng lại từ chối giám định.

Xét thấy hiện nay chị T không có việc làm ổn định, đồng thời chị T cũng có con riêng. Do đó, xét hoàn cảnh kinh tế của chị T không thể bảo đảm cho sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho cháu Minh A. Do vậy, cần giao cháu Minh A cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở.

Tòa phúc thẩm tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Mộng T. Xác định cháu Phạm Trần Minh A là con ruột của chị Võ Thị Mộng T. Giao cháu Trần Minh A cho chị Trần Thị N và anh Trần Văn Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

67-73

  1.  

Bản án số: 22/2019/HNGĐ-ST ngày 09/09/2019 về việc “Xác định con và chấm dứt nuôi con nuôi” của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Nội dung: Gia đình anh Nguyễn Tiến Đ và chị Nguyễn Thị A không có con nên chị T đã đồng ý đẻ hộ cho anh Đ và chị A. Ngày 15/4/2016, chị sinh cháu Nguyễn Thị Hồng B tại Bệnh viện E (Giấy chứng sinh số 79, quyền sổ 57). Sau khi sinh xong chị T để cháu N lại cho anh Đ và chị A nuôi dưỡng, đứng tên bố mẹ trên giấy khai sinh. Vợ chồng anh Đ nuôi cháu N được 2 năm thì giữa A và Đ ly hôn, anh Đ được giao nuôi con.

Sau đó, chị T và anh Đ đã đăng ký kết hôn và cùng nuôi dưỡng cháu N. Nay chị T yêu cầu Tòa án xác định cháu N là con đẻ của chị T và anh Đ, làm lại giấy khai sinh cho cháu N.

Tòa sơ thẩm nhận định: Chị T có quan hệ tình cảm với anh Đ và sinh cháu N (nữ) vào ngày 15/4/2016. Cháu N được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp của anh Đ và chị A nhưng không phải là con chung của anh chị. Sau đó, chị A và anh Đ đã nhận cháu N làm con nuôi, nên chị T đã đề nghị tòa án xác định cháu N là con đẻ của chị và anh Đ.

Tại bản Kết luận giám định số 243/C09-TT3 ngày 06/8/2019 thì anh Đ, chị T là cha đẻ, mẹ đẻ của cháu N.

Về yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi của anh Đ: Xét yêu cầu của anh Đ yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu N vì cháu N là con đẻ và chị A cũng đồng ý phù hợp với quy định tại Khoản 3 Điều 26 Luật nuôi con nuôi nên chấp nhận

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu xin xác định con cho cha mẹ của chị T xác định cháu N là con đẻ của chị T và anh Đ. Chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của anh Đ và chị A đối với cháu N.

74-79

  1.  

Bản án số: 36/2019/HNGĐ-ST ngày 01/10/2019 về việc “Tranh chấp về xác định mẹ cho con” của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Nội dung: Chị PTH và anh PCN có quan hệ tình cảm từ tháng 9/2006 nên chị PTH có thai với anh PCN. Ngày 03/05/2007, chị PTH sinh cháu bé dự định đặt tên là G theo Giấy chứng sinh số: 041155 ngày 09/05/2007 của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng.

Chị PTH do không hiểu biết pháp luật nên đã lấy tên H (chị PTH tự nghĩ ra tên khác) khai ở phần mẹ của cháu G. Chị PTH cam kết H là người không có thật do chị tự nghĩ ra. Vì vậy, chị PTH đề nghị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xác nhận chị là mẹ đẻ của cháu G theo quy định pháp luật.

Tòa sơ thẩm nhận định: Xét thấy chị PTH và anh PCN có quan hệ tình cảm từ tháng 09/2006. Ngày 03/0/2007, chị PTH sinh cháu bé dự định đặt tên là G. Do không hiểu biết pháp luật và cần đi làm nên chị PHT đã lấy tên H (chị PHT tự nghĩ ra tên khác) khai ở phần mẹ của cháu G.

Theo kết quả phân tích ADN, xác định bà PHT là mẹ đẻ của cháu G. Vì vậy, chị PTH đề nghị Tòa án xác nhận chị là mẹ đẻ của cháu G là có căn cứ.

Tòa sơ thẩm tuyên: chị PTH là mẹ đẻ của cháu G, chị PTH được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cải chính giấy khai sinh cho cháu G theo quy định của pháp luật.

80-83

  1.  

Bản án số: 1007/2019/HNGĐ-ST ngày 14/10/2019 về việc “Không công nhận cha cho con” của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung: Bà A là mẹ của cháu Nguyễn Thy T - sinh ngày 14/06/2011. Khi làm giấy khai sinh cho con do muốn trên giấy có tên cha và mẹ nên bà nhờ ông Nguyễn Hanh P khai nhận là cha của cháu T.

Ngày 13/7/2011, UBND Phường M, quận B đã cấp Giấy khai sinh số: 02/2011 có nội dung bà A là mẹ, ông P là cha của cháu T.

Ông P không phải là cha của cháu T, để tránh ảnh hưởng và phát sinh quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của ông P đối với cháu T. Nay bà A yêu cầu Tòa án xác định ông P không phải là cha của cháu T.

Tòa sơ thẩm nhận định: theo thừa nhận của đôi bên đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thì ông P không phải là cha của cháu T. Căn cứ Kết quả xét nghiệm ADN huyết thống “ông Nguyễn Hạnh P không phải là cha đẻ của cháu Nguyễn Thy T”.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Trường A xác định ông Nguyễn Hạnh P không phải là cha đẻ của cháu Nguyễn Thy T.

84-87

  1.  

Bản án số: 155/2019/HNGĐ-ST ngày 18/11/2019 về việc “Tranh chấp về xác định cha cho con” của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nội dung: Chị L và anh O là vợ chồng, do mẫu thuẫn nên năm 2007 ly hôn. Tại thời điểm ly hôn chị L và anh O đã có 01 người con là H3 sinh năm 1994. Sau khi ly hôn thì chị L và anh O vẫn sống chung với nhau.

Đến năm 2011 thì chị L sinh cháu T1. Thời gian đầu sau khi sinh thì anh O có ghé và mua sữa cho cháu. Tuy nhiên, sau đầu năm 2019 anh O và gia đình nói cháu T1 không phải là con của anh O, nói cha cháu T1 đã chết. Nay chị L yêu cầu tòa án xác định anh O là cha của cháu T1 đồng thời yêu cầu giám định cháu T1 và H3 có quan hệ huyết thống dòng cha.

Tòa sơ thẩm nhận định: Tại thời điểm ly hôn giữa chị L và anh O có 01 người con chung là cháu H3. Sau khi ly hôn vẫn chung sống qua lại với nhau, đến năm 2011 chị L sinh cháu T1. Anh O không có ý kiến cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị L. Chị L yêu cầu trưng cầu giám định cháu T1 và cháu H3 là con chung của chị L và anh O. Theo bản kết luận giám định “Nguyễn Minh T và Nguyễn Minh H có quan hệ huyến thống theo dòng cha”.

Tòa sơ thẩm tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thanh L đối với anh Nguyễn Xuân O về việc tranh chấp về xác định cha cho con.

88-93

XEM BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng:

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Các bài viết khác

Hotline tư vấn:
Zalo