Tình huống pháp lý: Nhặt được “của rơi”, người nhặt có được hưởng?
Tôi là Dương Thanh H, hiện đang sinh sống và làm việc tại một công ty may mặc thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Cách đây 01 ngày khi đang trên đường đi làm (ca đêm) thì tôi bất ngờ nhặt được 01 (một) chiếc ví. Trong đó bao gồm một số giấy tờ và số tiền mặt là 19 triệu đồng cùng 01 chỉ vàng. Vậy cho tôi được hỏi là trong trường hợp này khi tôi vô tình nhặt được số tiền và vàng thì tôi có được sử dụng tài sản này không hay phải giao nộp cho công an? Nếu tôi đem nộp lại cho công an mà chủ của chiếc ví này cũng không tìm được thì tài sản này thuộc về ai? Trường hợp tôi không giao nộp cho công an mà tự ký sử dụng thì có bị xử lý không? Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Công ty đã tư vấn!
Trả lời:
- Quy định pháp luật về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản khi nhặt được
Khoản 1 Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên như sau:
“1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại. Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.”
Do đó trong trường hơp này khi Quý Khách nhặt được ví của người khác đánh rơi, bỏ quên thì Quý Khách phải thông báo hoặc trả lại hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi gần nhất. Trong trường hợp Quý Khách không thực hiện các vấn đề nêu trên đồng thời sử dụng tài sản đó thì có thể vi phạm pháp luật và tùy thuộc theo mức độ mà bị xử lý hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đồng thời, theo điểm a Khoản 2 Điều 230 Bộ luật Dân sự 2015 nêu rõ:
“2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
- a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;”
Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2019/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về mức lương cơ sở từ ngày 01/ 7/2019 mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng.
Như vậy, sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai về tài sản mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì Quý Khách mới được hưởng giá trị của tài sản đó một cách hợp pháp được nhà nước cho phép.
Giả sử, sau 01 năm không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến thì giá trị tài sản Quý Khách có thể được hưởng như sau:
- Giá trị tài sản nhặt được: 19.000.000 đồng, (1 thẻ vàng 9999) chưa định giá).
- Giá trị được hưởng đối với người nhặt được (đã trừ chi phí bảo quản):
= Mười lần mức lương cơ sở + 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở = {(1.490.000 x10) + ½ 4.100.000} = 16.950.000 đồng
- Quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý đặt ra khi chiếm giữ trái phép tài sản nhặt được
Hiện nay, pháp luật quy định rất rõ về trách nhiệm pháp lý khi chiếm giữ trái phép tài sản nhặt được. Tùy theo tính chất và mức độ Quý Khách chiếm giữ trái phép có thể bị xử phạt hành chính hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự.
2.1. Xử phạt hành hành chính:
Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 15 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi “chiếm giữ trái phép tài sản của người khác”. Đồng thời áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiệc vi phạm.
2.1. Truy cứu trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội chiếm giữ tài sản được quy định như sau:
“1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
- Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”
....................
99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
336 Phan Chu Trinh, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế
Luật sư tại Quảng Ngãi:
359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn www.tuvanphapluatdanang.com
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0935 643 666 – 0906 499 446
Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
Các bài viết khác
- GIÁO TRÌNH LUẬT HIẾN PHÁP VIỆT NAM (NĂM 2006)
- TÀI LIỆU THAM KHẢO: LUẬT KINH DOANH DU LỊCH (NĂM 2001)
- SÁCH BẪY TRONG ĐIỀU KHOẢN HỢP ĐỒNG - SỔ TAY ĐỌC, SOÁT VÀ VIẾT LẠI HỢP ĐỒNG DƯỚI LUẬT VIỆT NAM
- SÁCH VIẾT PHÁP LÝ BẰNG TIẾNG VIỆT GIẢN DỊ
- TÀI LIỆU: TÌM HIỂU MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ AN NINH MẠNG VÀ QUY TẮC ỨNG XỬ VĂN HÓA TRÊN MÔI TRƯỜNG SỐ
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (CHƯƠNG XXI) CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (CHƯƠNG XVIII) CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (CHƯƠNG XIV) CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (CHƯƠNG XIII VÀ CHƯƠNG XV) CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN VÀ CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (CHƯƠNG XII) CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (TẬP IX) CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (TẬP X) CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (TẬP VIII) CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999 - (TẬP VII) CÁC TỘI XÂM PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG
- BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ - (TẬP VI) CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
- TÀI LIỆU HỘI THẢO: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ PHÁP LUẬT VỀ ĐẤT ĐAI, SỬA ĐỔI LUẬT ĐẤT ĐAI HƯỚNG TỚI MỤC TIÊU GIẢI PHÓNG NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG KỶ NGUYÊN MỚI



