DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT

Hoàn thiện pháp luật về giải quyết phá sản ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán
Ngày đăng: 15/04/2020

Lê Thị Thu Thủy PGS, TS. Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

1.Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, điển hình là các ngân hàng thương mại (NHTM), công ty chứng khoán (CTCK) đóng vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Với sự gia nhập WTO của Việt Nam và việc cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ năm 2007, thành lập CTCK 100% vốn nước ngoài từ năm 2012, thị trường tài chính Việt Nam trở nên phức tạp hơn, nhiều thách thức hơn. Sự tham gia thị trường ngày càng nhiều của các chủ thể,  của nhà đầu tư, sự xuất hiện ngày càng đa dạng các công cụ tài chính mới trên thị trường, xu hướng thành lập các tập đoàn tài chính hoạt động đa lĩnh vực (tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm) một mặt đánh dấu sự phát triển thị trường, mặt khác nó tiềm ẩn rủi ro lớn khi thị trường đi quá giới hạn, mọi chủ thể đều ganh đua với nhau vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Vấn đề năng lực cạnh tranh của các thành viên trên thị trường tài chính Việt Nam hiện nay cũng còn có những hạn chế nhất định như năng lực về vốn, chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ cung ứng, công nghệ. Nhiều ngân hàng, CTCK với khả năng tài chính hạn hẹp nên buộc phải sáp nhập với các ngân hàng, CTCK lớn mạnh, có khả năng tài chính tốt hơn. Những ngân hàng, CTCK yếu kém có thể rơi vào tình trạng phá sản bất cứ lúc nào. Thêm vào đó, từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) ở Việt Nam có xu hướng tăng nhanh. Theo báo cáo của các TCTD, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm NHTM nhà nước là 54,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,96% dư nợ tín dụng của nhóm NHTM nhà nước; nợ xấu của nhóm NHTM cổ phần là 41 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,54% dư nợ tín dụng của nhóm NHTM cổ phần. Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các TCTD là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm NHTM nhà nước là 125,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm NHTM nhà nước; nợ xấu của nhóm NHTM cổ phần là 60,9 ngàn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm NHTM cổ phần[1].

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế đánh giá nợ xấu của Việt Nam trên 10% tổng dư nợ tín dụng. Chẳng hạn, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings cho rằng nợ xấu của các TCTD Việt Nam là khoảng 13% tổng dư nợ tín dụng[2].

Đối với các CTCK, tình trạng không đảm bảo mức vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán cũng rất phổ biến, buộc các công ty này phải rút bớt vụ kinh doanh, thậm chí tạm ngừng hoạt động[3]. Nhiều mã chứng khoán bị đưa vào diện kiểm soát, cảnh cáo, thậm chí bị buộc ngừng giao dịch. Chính vì vậy, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 62/QĐ-BTC của ngày 10/01/2012 về việc phê duyệt đề án tái cấu trúc CTCK. Theo dự kiến, sau tái cơ cấu thị trường chứng khoán (TTCK), sẽ chỉ còn 1/3 trong số hơn 100 CTCK sẽ tồn tại, song cho đến nay, mặc dù TTCK có nhiều bất ổn, nhiều CTCK thua lỗ nhưng vẫn chưa có trường hợp nào bị tuyên bố phá sản. Trong lĩnh vực ngân hàng, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015”. Tuy nhiên, việc tái cơ cấu NHTM cũng như CTCK được thực hiện có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Bên cạnh đó, hiện tượng phá sản các doanh nghiệp đặc biệt này luôn tiềm ẩn. Vì vậy, việc nghiên cứu những đặc thù trong giải quyết phá sản đối với NHTM, CTCK là cần thiết, nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, uy tín của hệ thống ngân hàng, tránh tác động dây chuyền đến các TCTD khác.

2. Hoàn thiện pháp luật về giải quyết phá sản ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán  

2.1. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản NHTM, CTCK

NHTM, CTCK là những doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, kinh doanh tiền tệ, chứng khoán và các dịch vụ tài chính. Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn, các khoản nợ xấu của doanh nghiệp tăng lên, các chủ nợ không thu hồi được hoặc khó thu hồi nợ từ doanh nghiệp, người ta thường nghĩ đến việc yêu cầu cơ quan nhà nước tuyên doanh nghiệp đó phá sản. Trên thực tế, pháp luật các nước thường có những quy định đặc thù riêng để xác định một ngân hàng, TCTD, CTCK lâm vào tình trạng phá sản và kèm theo đó là những thủ tục đặc biệt để giải quyết phá sản các tổ chức này. Đối với các định chế tài chính trung gian thì Luật Phá sản chung không điều chỉnh cụ thể mà thường được điều chỉnh bởi các đạo luật phá sản riêng hoặc các đạo luật khác có liên quan về phá sản đối với từng chủ thể.

Chẳng hạn, ở Hoa Kỳ, theo Luật về Tổng Công ty bảo hiểm tiền gửi (BHTG) liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation - FDIC) năm 1933, FDIC là một tổ chức thực hiện các chức năng giám sát tình hình tài chính, cảnh báo cho các ngân hàng mua BHTG, thực hiện BHTG và phục hồi tài chính cho các ngân hàng, tham gia vào giải quyết, thanh lý tài sản các ngân hàng trong sự phối hợp với Cục dự trữ Liên bang, Ủy ban Thanh tra tài chính. FDIC và Ủy ban Thanh tra tài chính cũng có quyền yêu cầu tuyên bố phá sản các ngân hàng khi các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản. FDIC được Quốc hội Mỹ trao những quyền đặc biệt để giải quyết các vụ đổ bể ngân hàng (kể cả khi luật pháp có quy định khác) như: được phép toàn quyền tiếp nhận và thanh lý tài sản của tổ chức nhận tiền gửi bị phá sản mà không chịu sự chi phối của cổ đông, tòa án các cấp hay cơ quan kiểm soát khác. FDIC có thể thành lập ngân hàng cầu nối để giải quyết phá sản các ngân hàng khác khi việc duy trì các hoạt động của ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản là cần thiết, nhằm đảm bảo niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và các chủ nợ có liên quan. Ngân hàng này có thể nhận tiền gửi, các khoản nợ khác, thực hiện giao dịch mua tài sản có của ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Khác với Mỹ, ở Nga, theo Luật Phá sản TCTD thì Tòa án trọng tài là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết phá sản NHTM. Tòa án chỉ bắt đầu giải quyết phá sản NHTM khi tổ chức này bị rút giấy phép. Đạo luật phá sản của Nga không quy định cụ thể về phá sản TCTD mà chỉ quy định chung về phá sản các thương nhân thông thường. Vì vậy, phần lớn các vấn đề liên quan đến phá sản NHTM, TCTD được điều chỉnh bởi đạo luật chuyên ngành - Luật Phá sản TCTD năm 1999. Những nội dung không được thể hiện trong luật chuyên ngành thì sẽ áp dụng theo quy định của luật phá sản chung.

Ở Việt Nam, Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cơ quan có thẩm quyền giải quyết phá sản TCTD, CTCK (Điều 7 Luật Phá sản và Điều 5 Nghị định 05/2010/NĐ-CP).

Như vậy, tùy thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước điều chỉnh về phá sản doanh nghiệp đặc biệt mà việc giải quyết phá sản NHTM, CTCK được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau, có thể là cơ quan BHTG phối hợp với cơ quan giám sát tài chính trong mạng an toàn tài chính quốc gia giải quyết (ví dụ ở Hoa Kỳ, Canada...), hoặc việc giải quyết phá sản NHTM, CTCK thuộc thẩm quyền của tòa án (có thể là tòa án trọng tài hoặc tòa kinh tế - ở Nga, Việt Nam) trên cơ sở những quy định đặc thù về phá sản NHTM, CTCK và các quy định chung về phá sản doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ quan niệm về tính chất của thủ tục giải quyết phá sản theo pháp luật các nước cũng khác nhau: có thể là thủ tục tư pháp thuần túy, do tòa án tiến hành trên cơ sở đơn yêu cầu của con nợ, chủ nợ hoặc cơ quan giám sát ngân hàng, chứng khoán hoặc có thể là thủ tục hành chính do cơ quan giám sát ngân hàng, CTCK thực hiện. Tuy nhiên, dù thuộc thẩm quyền của cơ quan nào đi chăng nữa thì mục đích của việc giải quyết phá sản doanh nghiệp cũng phải hướng tới: tạo điều kiện cho con nợ thanh toán các khoản nợ và rút khỏi thị trường một cách có trật tự để trong tương lai có thể khởi nghiệp lại và đảm bảo khả năng tài chính bền vững trên cơ sở kinh nghiệm đã tích lũy trong quá trình kinh doanh; bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các chủ nợ trước những hành vi vi phạm, sự lộng quyền từ phía con nợ và bên thứ ba. Đặc biệt,  "việc ban hành luật phá sản tạo cơ sở cho cá nhân, các công ty có thể vay vốn mặc dù họ biết rằng nếu kinh doanh không thành công, họ có thể phải làm lại tất cả từ đầu và đặc biệt, luật phá sản tạo khả năng cho họ đạt được thành công trong tương lai”[4]. Phá sản không chỉ là việc chấm dứt hoạt động, thu hồi toàn bộ tài sản của doanh nghiệp và thanh toán cho các chủ nợ theo một thứ tự nhất định, mà phá sản còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thỏa thuận với các chủ nợ, tái cấu trúc lại doanh nghiệp và lên kế hoạch trả nợ hợp lý để trở lại hoạt động bình thường.

Đối với các doanh nghiệp đặc biệt như NHTM, CTCK thì việc giải quyết phá sản các doanh nghiệp này phải đảm bảo nguyên tắc: thận trọng, hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu của việc phá sản đến hệ thống tài chính và cần tạo ra một cơ chế đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, các nhà đầu tư trên TTCK. Điều này xuất phát từ đặc thù về qui mô, phạm vi hoạt động của các TCTD, CTCK trên thị trường tài chính. Ngoài ra, việc giải quyết phá sản các doanh nghiệp này cần được thực hiện nhanh chóng, đối với các doanh nghiệp thực sự không phục hồi được hoạt động kinh doanh thì việc tiến hành thủ tục thanh lý tài sản nên diễn ra càng sớm càng tốt nhằm bảo vệ quyền lợi của các người gửi tiền, nhà đầu tư, ngăn ngừa tình trạng tẩu tán tài sản và đảm bảo khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ.

Để đạt được các nguyên tắc trên trong quá trình giải quyết phá sản các doanh nghiệp đặc biệt, một câu hỏi đặt ra: liệu vấn đề phá sản TCTD có nên giao cho Cơ quan BHTG Việt Nam (DIV) không? Thực tế, đây là cơ quan chịu trách nhiệm về cảnh báo rủi ro và xử lý các ngân hàng khi đổ vỡ, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền[5]. Các Sở giao dịch chứng khoán có vai trò gì trong giải quyết phá sản TCTD? Các tổ chức này thực chất là các tổ chức tự quản trên TTCK nhưng lại có vai trò rất lớn trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển TTCK thứ cấp, đảm bảo sự kết nối giữa các CTCK với nhà đầu tư trên thị trường. Nếu các CTCK - thành viên trên Sở - lâm vào tình trạng phá sản, ảnh hưởng tới hoạt động của Sở, của TTCK thứ cấp, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư thì Sở có quyền năng gì không? Hiện nay luật pháp chưa trao quyền cho Sở trong việc giải quyết phá sản các CTCK. Thiết nghĩ, cần có sự trao quyền rộng hơn cho các cơ quan hữu quan trong việc tham gia quá trình giải quyết phá sản các tổ chức đặc biệt này, chẳng hạn như quyền của tổ chức BHTG Việt Nam trong việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tham gia BHTG, quyền của Sở GDCK, Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) trong việc nộp đơn, thậm chí tham gia quá trình thanh lý tài sản phá sản của các CTCK thành viên.           

            2.2. Dấu hiệu để xác định NHTM, CTCK lâm vào tình trạng phá sản

Ở Việt Nam, Luật Phá sản năm 2004 không quy định cụ thể về dấu hiệu để xác định NHTM lâm vào tình trạng phá sản. Điều này được thể hiện trong Nghị định số 05/2010/NĐ-CP quy định áp dụng Luật Phá sản đối với TCTD, theo đó dấu hiệu để xác định TCTD lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: “TCTD không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, sau khi NHNN Việt Nam đã có văn bản không áp dụng hoặc chấm dứt áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản” (Điều 4). Đối với CTCK, hiện nay pháp luật chưa quy định rõ đặc thù về dấu hiệu để xác định công ty này lâm vào tình trạng phá sản. Theo Luật Phá sản và Nghị định 114/NĐ-CP/2008 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác (Nghị định 114) thì CTCK có thể được áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán hoặc là không. Nếu trong trường hợp CTCK đã được áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán, nhưng vẫn không khôi phục được, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và Bộ Tài chính, UBCKNN hoặc chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời không có đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ 2/3 (hai phần ba) tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đề nghị tổ chức Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán quyết định áp dụng ngay việc thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố doanh nghiệp phá sản mà không áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Vậy dấu hiệu để xác định CTCK lâm vào tình trạng phá sản có thể chỉ đơn giản là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu, không nhất thiết phải áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng tài chính. Ngoài ra, pháp luật về phá sản không đặt ra yêu cầu về giới hạn mức nợ là bao nhiêu? Thời hạn không thanh toán khoản nợ? Nếu CTCK không thanh toán được khoản nợ chỉ có giá trị vài trăm nghìn đồng khi đến hạn và chủ nợ có yêu cầu thì liệu CTCK có thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay không?

Tuy nhiên, bên cạnh pháp luật phá sản, các văn bản chuyên ngành về chứng khoán cũng có các quy định liên quan đến phá sản CTCK. Thông tư số 226/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính và Thông tư 165/2012/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 226 quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính khẳng định: định kỳ hàng tháng, tổ chức kinh doanh chứng khoán phải báo cáo UBCKNN về tỷ lệ vốn khả dụng theo mẫu báo cáo quy định tại Thông tư này. Báo cáo phải được gửi kèm tệp thông tin điện tử trong vòng mười (10) ngày, kể từ ngày kết thúc tháng (Điều 11). Ngoài ra, Mục 5 Thông tư 165/2012/TT-BTC quy định: UBCKNN ra quyết định đặt tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng kiểm soát đặc biệt trong các trường hợp sau:

a) Tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%, bao gồm cả trường hợp tỷ lệ vốn khả dụng do công ty tự tính và tỷ lệ vốn khả dụng sau khi đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc

b) Không khắc phục được tình trạng kiểm soát trong thời hạn 12 tháng

c) Không thực hiện báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính trong hai (02) kỳ báo cáo liên tiếp, hoặc không công bố thông tin về báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính đã được soát xét, kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận

d) Báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính mà tổ chức kiểm toán được chấp thuận đưa ra ý kiến không chấp nhận (hoặc ý kiến trái ngược), từ chối đưa ra ý kiến (hoặc không thể đưa ra ý kiến), ý kiến ngoại trừ một số các chỉ tiêu của báo cáo này mà nếu trừ các ảnh hưởng ngoại trừ ra khỏi vốn khả dụng sẽ dẫn tới tỷ lệ vốn khả dụng dưới 120%.

Thời hạn kiểm soát đặc biệt không quá bốn (04) tháng, kể từ ngày tổ chức kinh doanh chứng khoán bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Sau khi hết thời hạn kiểm soát đặc biệt, nếu tổ chức kinh doanh chứng khoán vẫn không khắc phục được tình trạng kiểm soát đặc biệt và có lỗ gộp (chỉ tiêu lợi nhuận chưa phân phối trên bảng cân đối kế toán) dưới năm mươi phần trăm (50%) vốn điều lệ hoặc không bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về phá sản doanh nghiệp thì UBCKNN yêu cầu tổ chức kinh doanh chứng khoán tạm ngừng hoạt động.Việc tạm ngừng hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán kéo dài cho tới khi:

a) Tổ chức kinh doanh chứng khoán có tỷ lệ vốn khả dụng đạt từ 180% trở lên trong ba (03) tháng liên tục, trong đó tỷ lệ vốn khả dụng tại kỳ báo cáo cuối cùng phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận; hoặc

b) Tổ chức kinh doanh chứng khoán hợp nhất, sáp nhập với tổ chức kinh doanh chứng khoán khác, hoặc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về phá sản doanh nghiệp và các quy định về thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán do Bộ Tài chính ban hành”

Nếu CTCK để rơi vào tình trạng kiểm soát đặc biệt 6 tháng liền, kèm với lỗ luỹ kế 50% vốn điều lệ, CTCK sẽ bị đình chỉ hoạt động.

Trên thực tế, hiện có 40/105 CTCK khó khăn về thanh khoản không đảm bảo chỉ tiêu an toàn tài chính, có 71 CTCK bị thua lỗ (do giá cổ phiếu giảm thấp và đầu tư không hiệu quả)[6].

Từ quy định trên, chúng ta thấy, một CTCK nếu không đạt tỷ lệ vốn khả dụng nhất định thì sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và có thể bị tạm ngừng hoạt động theo yêu cầu của UBCKNN. Điều này chứng tỏ dấu hiệu để xác định CTCK cũng giống như NHTM là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu sau khi áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán (biện pháp kiểm soát đặc biệt do UBCKNN thực hiện). Vậy pháp luật phá sản nên có quy định rõ ràng hơn về vấn đề này để làm cơ sở cho Tòa án xác định tình trạng phá sản của CTCK. Sở dĩ có quy định đặc biệt như vậy là vì, CTCK cũng như NHTM là một định chế tài chính trung gian bắt buộc trên TTCK, có vai trò rất lớn trong việc duy trì sự tồn tại và phát triển TTCK, là cầu nối giữa các nhà đầu tư, vì vậy việc tuyên phá sản các công ty này có thể gây hệ lụy đáng kể đối với nhà đầu tư, đối với thị trường và nền kinh tế. Ở các nước phát triển, TTCK chính là “bộ mặt” của nền kinh tế, sự tăng trưởng của nền kinh tế được xác định thông qua chỉ số giá chứng khoán tại các sàn giao dịch. Sự thận trọng trong việc giải quyết phá sản CTCK là hết sức cần thiết. Hơn nữa, đặc thù của TTCK Việt Nam hiện nay cho thấy, không ít các CTCK buộc phải rút bớt nghiệp vụ, đặc biệt là nghiệp vụ môi giới, như CTCK Trường Sơn, Đông Dương và Chứng khoán Hà Nội do khó khăn tài chính, không đủ tiêu chuẩn giao dịch. Ngoài ra, Chứng khoán SME cũng phải rời hẳn thị trường vì hàng loạt bê bối. Nhiều lãnh đạo CTCK bị bắt với các vi phạm hình sự. UBCKNN cũng đã ra quyết định đặt 7 CTCK vào diện kiểm soát đặc biệt (CTCK Cao su, Vina, Hà Nội, Trường Sơn, Đà Nẵng, Mê Kông và Công nghiệp và Thương mại Việt Nam). Thậm chí CTCK Nam An (NASC) ghi nhận năm lỗ thứ 5 liên tiếp khi doanh thu các mảng tư vấn, tự doanh, môi giới mang lại cho doanh nghiệp chưa đầy 1 tỷ đồng. Năm 2012, NASC lỗ 2,5 tỷ đồng, giảm 1,82 tỷ đồng, lũy kế cả năm âm 71 tỷ đồng. Đây cũng là CTCK duy nhất chưa từng lãi kể từ khi thành lập đến nay[7]. Nhiều CTCK lâm vào tình trạng thua lỗ trong khi đó vẫn nắm giữ khối tài sản lớn của nhà đầu tư (lên đến hàng trăm tỷ đồng). Nếu CTCK phá sản, quyền lợi của nhà đầu tư sẽ khó được đảm bảo. Vì vậy, việc xác định dấu hiệu phá sản CTCK cần được thể hiện rõ trong pháp luật chứng khoán. Theo đó, cơ sở để nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản CTCK là CTCK mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn sau khi đã áp dụng các biện pháp kiểm soát đặc biệt và có Quyết định đình chỉ hoạt động CTCK của UBCKNN.

Trên thực tế hiện nay, rất nhiều CTCK vi phạm không chỉ các quy định về tỷ lệ vốn khả dụng, mà còn vi phạm quy định về vốn pháp định.Theo quy định của Luật Chứng khoán và Nghị định số 14/2007/NĐ-CP, các CTCK phải có vốn điều lệ đáp ứng vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh đã được cấp phép đến ngày 8/2/2009. Quá thời hạn này, CTCK nào không đủ điều kiện sẽ bị UBCKNN rút giấy phép. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều công ty yếu kém nhưng cho đến nay, chưa có một công ty nào chính thức bị “khai tử” vì phá sản hay bị rút giấy phép. Hầu hết các CTCK đứng trước bờ vực “sinh tử” đều có cách tránh đối mặt với chuyện phá sản. Cách phổ biến hiện nay là giảm thiểu nhân sự, đóng cửa các chi nhánh, dời trụ sở ra xa trung tâm thành phố, ngừng hẳn các nghiệp vụ, chỉ nắm giữ các khoản đầu tư cho đến ngày đáo hạn. Mục đích chính của những công ty này là giảm tối đa chi phí, không tiếp tục hoạt động nhưng vẫn giữ lại giấy phép hoạt động.Việc công bố thông tin mù mờ của những công ty chưa niêm yết cũng giúp họ dễ dàng thực hiện kế hoạch quy ẩn nêu trên (trong số 105 CTCK thành viên, chỉ có 26 CTCK đã niêm yết)[8]. Thực trạng trên cho thấy, pháp luật chứng khoán cũng cần quy định rõ các chế tài khi CTCK không đáp ứng các chỉ tiêu an toàn tài chính về vốn pháp định, trên cơ sở đó UBCKNN có thể ra quyết định giải thể hoặc đình chỉ hoạt động của CTCK, và đây có thể là cơ sở cho việc giải quyết phá sản của CTCK sau này.

Về phá sản NHTM, Luật Phá sản TCTD của Nga năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Khoản 2 Điều 2 quy định: TCTD bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi TCTD đó không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của chủ nợ về các khoản nợ và (hoặc) không có khả năng thực hiện nghĩa vụ chi trả các khoản nợ bắt buộc trong vòng 14 ngày sau khi đến hạn thanh toán các khoản nợ đó và (hoặc) giá trị của tài sản có của TCTD không đủ để thực hiện nghĩa vụ trước các chủ nợ hoặc các khoản thanh toán bắt buộc. Trong khi đó, Luật Phá sản của Nga năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm 2008 lại quy định: Phá sản doanh nghiệp là tình trạng con nợ bị Tòa án trọng tài công nhận về việc mất khả năng thanh toán đối với mọi yêu cầu của chủ nợ về nghĩa vụ tiền tệ và (hoặc) không thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản chi trả bắt buộc. Vậy theo luật của Nga, dấu hiệu phá sản TCTD được quy định cụ thể hơn so với dấu hiệu phá sản doanh nghiệp thông thường. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ nếu không quy định đặc thù về thời hạn mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì TCTD dễ dàng lâm vào tình trạng phá sản, điều này ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của TCTD và quyền lợi của các chủ nợ khác có khoản nợ chưa đến hạn.  

            2.3. Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản NHTM, CTCK

Pháp luật các nước thường quy định cơ sở cho việc giải quyết phá sản TCTD là đơn của các chủ nợ, con nợ, luật sư, là Quyết định của Ngân hàng Trung ương (NHTW) về việc thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các TCTD khi các TCTD không có khả năng thanh toán kịp thời mọi khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên, tòa án trọng tài cũng có thể bác đơn của NHTW và tiến hành thủ tục cơ cấu lại TCTD và chấm dứt việc giải quyết thủ tục phá sản (ví dụ, theo Luật Phá sản TCTD ở Nga năm 1999, Luật Phá sản ngân hàng và các TCTD ở Cộng hòa Armenia năm 2001). Điều đặc biệt là các chủ thể chỉ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản sau khi NHTW đã rút giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng của TCTD. Thậm chí, NHTW là chủ thể có nghĩa vụ nộp đơn tới tòa án yêu cầu ra quyết định mở thủ tục phá sản ngân hàng[9].

Theo pháp luật phá sản Việt Nam, chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD không bao gồm NHNN và DIV. Các cơ quan này hiện nay chỉ là cơ quan có trách nhiệm thông báo tới các đối tượng có quyền nộp đơn mà thôi. Tuy nhiên, quy định này là không hợp lý, bởi lẽ NHNN là cơ quan quản lý, giám sát các NHTM, cơ quan BHTG là cơ quan kiểm tra, giám sát cùng với NHNN và cảnh báo rủi ro cho các ngân hàng, chính vì vậy, đây là các cơ quan am hiểu hơn ai hết về tình trạng "sức khỏe” của các NHTM. Nếu sau khi áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng tài chính (kiểm soát đặc biệt, hỗ trợ tài chính, bảo lãnh vay vốn...) mà NHTM vẫn mất khả năng thanh toán thì NHNN, cơ quan BHTG phải là những chủ thể có nghĩa vụ đầu tiên nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và các chủ nợ khác. Hơn nữa, trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, hai cơ quan trên cũng có thể là các chủ nợ đối với NHTM khi tái cấp vốn, cho vay các ngân hàng này. Các khoản vay này có thể là có bảo đảm hoặc không có bảo đảm. Nếu không có bảo đảm thì chính các cơ quan đó là các chủ nợ có quyền nộp đơn đương nhiên. Vì vậy, việc quy định trong pháp luật phá sản về quyền nộp đơn của NHNN và DIV là hợp lý.

Đối với các chủ thể nộp đơn khác (như bản thân NHTM, con nợ, chủ nợ) pháp luật chưa quy định rõ họ có quyền nộp đơn khi nào? Vì vậy, cần xác định rõ vấn đề này: Khi NHTM lâm vào tình trạng phá sản nhưng đã được áp dụng các biện pháp kiểm soát đặc biệt, hỗ trợ tài chính mà vẫn không khôi phục được khả năng tài chính và có văn bản của NHNN về việc chấm dứt tình trạng này thì mới có cơ sở cho việc nộp đơn. Ngoài ra, để hạn chế tình trạng nộp đơn tùy tiện đối với một doanh nghiệp có "độ nhạy cảm” cao trong kinh doanh, có ảnh hưởng lớn tới hệ thống ngân hàng và nền kinh tế, cần đưa ra giới hạn về giá trị khoản nợ của các chủ nợ có quyền nộp đơn. Giả sử chủ nợ có khoản nợ tương đương 1.000 lần mức lương tối thiểu trở lên mới được nộp đơn (như Luật Phá sản TCTD ở Nga).

Đối với các CTCK khi lâm vào tình trạng phá sản, chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản không bao gồm UBCKNN, Sở Giao dịch chứng khoán, trong khi đó đây là các chủ thể có nghĩa vụ quản lý, giám sát toàn bộ tổ chức và hoạt động của CTCK, quy định về các điều kiện thành viên. Việc trao quyền cho các tổ chức này nộp đơn tới tòa án yêu cầu mở thủ tục phá sản là cần thiết, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của nhà đầu tư chứng khoán kịp thời, tránh tình trạng khi CTCK bị tuyên phá sản thì tài sản đã khánh kiệt. Ngoài ra, cũng cần thiết quy định rõ các chủ thể khác chỉ có quyền nộp đơn sau khi đã áp dụng kiểm soát đặc biệt đối với CTCK mà CTCK vẫn mất khả năng thanh toán và có văn bản của UBCKNN về đình chỉ hoạt động của CTCK.

2.4. Thủ tục giải quyết phá sản NHTM, CTCK

Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài cho thấy, họ không áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp đặc biệt sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản. Theo pháp luật Hoa Kỳ, sau khi có quyết định của cơ quan thanh tra tài chính hoặc cơ quan hành pháp bang, FDIC[10] sẽ được cử làm người quản lý tài sản ngân hàng phá sản, thực hiện chi trả tiền gửi và thanh lý tài sản ngân hàng. Luật Phá sản TCTD ở Nga năm 1999, điều 38 quy định: Giai đoạn phục hồi con nợ và thỏa thuận về phương án phục hồi con nợ quy định trong Luật Phá sản ở Nga không áp dụng đối với phá sản TCTD.

Hiện nay, pháp luật phá sản Việt Nam có quy định thủ tục rút gọn đối với CTCK, NHTM. Trường hợp NHNN đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản về việc chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán đối với TCTD, sau khi mở thủ tục phá sản, Thẩm phán tòa án sẽ quyết định áp dụng thủ tục thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố TCTD phá sản mà không áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh (Khoản 2 Điều 2 Nghị định 05); Đối với CTCK, trường hợp đã được áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán, nhưng vẫn không khôi phục được, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu và Bộ Tài chính, UBCKNN hoặc chủ sở hữu của doanh nghiệp có quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán, đồng thời không có đủ quá nửa số chủ nợ không có bảo đảm đại diện cho từ 2/3 (hai phần ba) tổng số nợ không có bảo đảm trở lên đề nghị tổ chức Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán quyết định áp dụng ngay việc thanh lý tài sản, các khoản nợ và tuyên bố doanh nghiệp phá sản mà không áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh (Khoản 2 Điều 3 Nghị định 114).

Trong trường hợp doanh nghiệp chứng khoán và tài chính khác không được áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán, UBCKNN, Bộ Tài chính hoặc chủ sở hữu thông báo cho Tòa án về việc không áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp để thực hiện giải quyết theo thủ tục phá sản quy định tại khoản 1, Điều 3 Nghị định 114 (bao gồm đầy đủ 4 bước như các doanh nghiệp khác).

Như vậy, pháp luật phá sản có quy định phân biệt về thủ tục giải quyết phá sản đối với NHTM và CTCK. Không phải trong mọi trường hợp CTCK đều được áp dụng thủ tục rút gọn (bỏ qua giai đoạn phục hồi hoạt động kinh doanh). Nếu CTCK không được áp dụng các biện pháp phục hồi thì không được áp dụng thủ tục rút gọn. Điều này liệu có cần thiết không? Hơn nữa, Nghị định 114 (Khoản 2 Điều 9) quy định cụ thể: ”Đối với trường hợp doanh nghiệp chứng khoán có nguy cơ mất khả năng thanh toán, UBCKNN có quyền sau: ...Yêu cầu doanh nghiệp chứng khoán thực hiện niêm phong tạm thời một phần hoặc toàn bộ các tài khoản tiền và tài khoản chứng khoán của khách hàng và tài khoản tự doanh của doanh nghiệp để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán...”

Vậy trong cùng một Nghị định 114, các quy định có sự mâu thuẫn nhau. Một CTCK nếu có nguy cơ mất khả năng thanh toán, đương nhiên UBCKNN sẽ áp dụng biện pháp khôi phục khả năng tài chính. Tùy thuộc vào tỷ lệ vốn khả dụng mà có thể đặt CTCK đó vào tình trạng kiểm soát hay kiểm soát đặc biệt mà thôi.

Để đảm bảo sự bình đẳng giữa các CTCK,pháp luật nên có sự nhất quán trong quy định về thủ tục giải quyết phá sản đối với các chủ thể này. Đây phải là thủ tục rút gọn, nhằm bảo đảm nguyên tắc hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư chứng khoán, hạn chế hiện tượng tẩu tán tài sản công ty. Điều này cũng có nghĩa là Tòa án mở thủ tục phá sản đồng nghĩa với việc mở thủ tục thanh lý tài sản của NHTM, CTCK.

 Ngoài ra, việc thanh lý tài sản của các doanh nghiệp này cần được thực hiện theo phương thức và thứ tự ưu tiên như sau:

- Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động kinh doanh trong cùng ngành nghề, lĩnh vực để tiếp tục kinh doanh;

- Bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp cho các đối tượng khác trong trường hợp không có đối tượng hoạt động kinh doanh trong cùng ngành nghề, lĩnh vực tham gia đấu giá mua doanh nghiệp để tiếp tục kinh doanh;

-  Bán theo phương thức trực tiếp toàn bộ doanh nghiệp cho đối tượng hoạt động kinh doanh

-  Bán đấu giá từng tài sản riêng lẻ được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá toàn bộ doanh nghiệp;

- Bán từng tài sản riêng lẻ theo phương thức trực tiếp được thực hiện trong trường hợp không thực hiện được theo phương thức bán đấu giá từng tài sản hoặc giá trị tài sản dưới mức phải bán theo phương thức đấu giá theo quy định của pháp luật.

2.5. Hoạt động kinh doanh của NHTM, CTCK sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản

Về vấn đề này, pháp luật nước ngoài quy định: người có quyền đề nghị, chỉ định người thay thế người quản lý NHTM, CTCK lâm vào tình trạng phá sản là NHTW, UBCKNN (nếu xét thấy người quản lý hiện tại trong NHTM, CTCK không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của NHTM, CTCK). Điều này là rất cần thiết, bởi lẽ các TCTD luôn là đối tượng chịu sự quản lý của NHTW, UBCKNN kể cả khi đã bị ra quyết định mở thủ tục phá sản. NHTW, UBCKNN là cơ quan có thể nhận biết được trình độ, năng lực của người  quản lý, điều hành thông qua báo cáo hàng năm. Tuy nhiên, theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán có quyền ra quyết định cử người quản lý đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của NHNN để điều hành hoạt động kinh doanh của TCTD (Khoản 2 Điều 30 Luật Phá sản và Khoản 2 Điều 17 Nghị định 05). Tương tự như vậy, Khoản 2 Điều 12 Nghị định 114 quy định: "Trường hợp xét thấy người quản lý của doanh nghiệp bảo hiểm, chứng khoán và tài chính khác không có khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động sẽ không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp thì theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ, Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”. Quy định này bất hợp lý, bởi lẽ không phải lúc nào hội nghị chủ nợ cũng được triệu tập họp kịp thời, hơn nữa hội nghị chủ nợ cũng như Thẩm phán cũng không thể nắm bắt được rõ tình hình hoạt động kinh doanh của TCTD, CTCK bằng các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành đối với các doanh nghiệp này. Vì vậy, việc trao quyền cho các cơ quan NHNN và UBCKNN trong việc quyết định cử người tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp đặc biệt này là phù hợp với chức năng quản lý của các cơ quan này.

2.6. Về tài sản của NHTM, CTCK lâm vào tình trạng phá sản

Theo Khoản 1 Điều 30 Nghị định số 05/2010/NĐ-CP thì “tài sản của TCTD lâm vào tình trạng phá sản được xác định theo quy định tại Điều 49 của Luật Phá sản”.  

Theo khoản 1 Điều 49 Luật Phá sản năm 2004, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được liệt kê cụ thể như sau:

- Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

- Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

- Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.

Có thể thấy, quy định trên là không hợp lý, vì đã bỏ sót các loại tài sản, quyền tài sản thu được từ các giao dịch vô hiệu, tài sản mới có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh sau khi có quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản. Tất cả các tài sản trên cần được kê biên để thanh toán cho các chủ nợ. Điều này là cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ. Hơn nữa, một số giao dịch sau khi doanh nghiệp đặc biệt bị ra quyết định mở thủ tục phá sản vẫn có thể thực hiện dưới sự giám sát của NHNN, DIV như mở tài khoản, chuyển tiền (các giao dịch không ảnh hưởng đến nguồn vốn của NHTM), UBCKNN, Sở Giao dịch chứng khoán như môi giới, tư vấn đầu tư chứng khoán thì thu nhập phát sinh từ các giao dịch này cũng cần được tính vào khối tài sản phá sản của NHTM, CTCK.

2.7. Về quyền chủ nợ của cơ quan cơ quan BHTG Việt Nam

Điều 21 Nghị định 05/2010/NĐ-CP quy định: BHTG Việt Nam trở thành chủ nợ của TCTD tham gia BHTG với số tiền bảo hiểm đã chi trả và được phân chia giá trị tài sản theo thứ tự thanh toán như đối với người gửi tiền trong trường hợp TCTD bị phá sản. Điều này là chưa hợp lý, bởi lẽ DIV là cơ quan thu phí bảo hiểm và chi trả bảo hiểm theo nguyên tắc số đông bù số ít (nguyên lý của bảo hiểm). Vậy trong trường hợp TCTD tham gia BHTG bị phá sản, việc chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện từ quỹ BHTG (trong đó có phí do TCTD đã đóng góp). Nếu pháp luật phá sản lại cho phép DIV đòi tiền từ con nợ (TCTD đóng phí BHTG) thì trong trường hợp này sẽ trái với nguyên lý của bảo hiểm và làm thiệt hại khối tài sản của con nợ, ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ nợ khác. Vì vậy, cần có quy định khác để bảo vệ được tối đa quyền lợi của mọi chủ nợ và con nợ trong quá trình giải quyết phá sản./

 


[1] Báo cáo giải trình của Ngân hàng Nhà nước tại Phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ngày 15/08/2012.

[2] Nguyễn Hữu Nghĩa, Thực trạng nợ xấu của các TCTD Việt Nam hiện nay, http://www.thoibaonganhang.vn/tin-tuc/2-thuc-trang-no-xau-cua-cac-tctd-hien-nay-3160.html

[3]Trên sàn Hà Nội đã công bố danh sách một loạt các CTCK không đủ điều kiện giao dịch ký quỹ tính đến 30/6/2012 như AVS (CTCK Âu Việt), APS (CTCK Châu Á - Thái Bình Dương), APG (CTCK An Phát), SHS (CTCK Sài Gòn Hà Nội), PSI (CTCK Dầu khí), SVS (CTCTCK Sao Việt), TAS (CK Tràng An), VIG (CTCK Thương mại và Công nghiệp Việt Nam), VND (VNDIRECT). Tất cả các công ty này đều bị cảnh báo do kết quả kinh doanh lỗ 2011 và lỗ lũy kế. SME và HPC (CTCK Hải Phòng), BVS (CTCK Bảo Việt) bị đưa vào diện kiểm soát. Xem: Mai Chi, “Vì sao chưa có CTCK nào phá sản”, http://dantri.com.vn/kinh-doanh/vi-sao-chua-co-cong-ty-chung-khoan-nao-pha-san-627898.htm

[4] Cidney Bruce, Pháp luật phá sản ở Mỹ - Sổ tay thẩm phán Tòa án liên bang Mỹ, 1993, tr. 57, 58.

[5]Điều 13 Luật BHTG Việt Nam chỉ qui định: DIV tham gia vào quá trình kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG theo quy định của Chính phủ.

[6]CTCK: 2/3 phá sản, 23/05/2012, 10:04 - chuyên mục Kinh Doanh|Thị Trường, http://www.tinmoi.vn/cong-ty-chung-khoan-23-pha-san-01906845.html

[7]Trần Việt, Sẽ có hàng loạt CTCK giải thể phá sản: Nguy cơ và hy vọng, 27/01/2013 08:35:56- chuyên mục Kinh Doanh|Chứng Khoán,http://www.tinmoi.vn/se-co-hang-loat-cong-ty-chung-khoan-giai-the-pha-san-nguy-co-va-hy-vong-011193610.html

[8] Nguồn : Kỹ xảo Việt, CTCK nào sẽ phá sản? 13/01/2012 04:48:18- chuyên mục Kinh Doanh|Chứng Khoán| http://www.tinmoi.vn/cong-ty-chung-khoan-nao-se-pha-san-01721838.html

[9] Điều 50.4 Luật Phá sản TCTD ở Nga 1999 (Sửa đổi , bổ sung năm 2009) qui định: Nếu chưa tới ngày bị rút giấy phép hoạt động ngân hàng, ngân hàng có dấu hiệu bị phá sản thì NHTW Nga phải ra Quyết định rút giấy phép hoạt động của ngân hàng đó và trong vòng 5 ngày kể từ khi đăng Quyết định về việc rút giấy phép ngân hàng trong Bản tin NHTW Nga, NHTW Nga có nghĩa vụ nộp đơn tới tòa án trọng tài yêu cầu công nhận ngân hàng bị phá sản.

[10] Tổng công ty BHTG Liên bang Mỹ (FDIC)

 

Các bài viết khác

Hotline tư vấn:
Zalo